Biến đổi khí hậu là gì? Lịch sử phát triển các thỏa thuận khí hậu
Biến đổi khí hậu là gì?
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi dài hạn về trạng thái khí hậu, được xác định thông qua phân tích thống kê các yếu tố như nhiệt độ, lượng mưa và các chỉ số khí hậu khác trong nhiều thập kỷ hoặc lâu hơn. Nguyên nhân có thể đến từ quá trình tự nhiên (biến thiên Mặt Trời, phun trào núi lửa) hoặc từ hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển và mục đích sử dụng đất.
Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC), biến đổi khí hậu được hiểu là sự thay đổi khí hậu do hoạt động của con người gây ra, bổ sung vào biến thiên tự nhiên trong cùng một giai đoạn.
Từ giữa thế kỷ 20, phần lớn hiện tượng nóng lên toàn cầu xuất phát từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch, làm gia tăng khí nhà kính (KNK). Các bằng chứng khoa học ghi nhận: Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng; Mực nước biển dâng; Băng tan tại hai cực; Gia tăng hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, hạn hán, cháy rừng và lũ lụt.

Biểu đồ minh họa sự thay đổi nhiệt độ bề mặt toàn cầu so với nhiệt độ trung bình giai đoạn 1951-1980, trong đó năm 2020 có nhiệt độ cao tương đương với năm 2016, là năm nóng nhất từng được ghi nhận (Nguồn: NASA).
Lịch sử các thỏa thuận khí hậu quốc tế
Trong một thời gian dài, các vấn đề môi trường như BĐKH và nóng lên toàn cầu không phải là mối quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế hay Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, nhận thức về môi trường ngày càng tăng bắt đầu từ cuối những năm 1960. Một số cột mốc quan trọng trong chính sách khí hậu quốc tế gồm:
- Năm 1972: Hội nghị Stockholm và thành lập Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP).
- Năm 1988: Thành lập Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) nhằm đánh giá cơ sở khoa học về BĐKH.
- Năm 1992: UNFCCC được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro, đặt nền móng cho các kỳ họp COP.
- Năm 1997: Nghị định thư Kyoto được thông qua tại COP3, Kyoto, Nhật Bản. Đây là hiệp ước đầu tiên ràng buộc pháp lý các nước phát triển phải cắt giảm phát thải KNK. Theo đó, 37 quốc gia công nghiệp hóa đã cam kết giảm lượng khí thải KNK xuống 5,2% so với mức năm 1990 trong giai đoạn 2008-2012. Nghị định thư này triển khai ba cơ chế chính: Cơ chế mua bán phát thải (ETS); Cơ chế phát triển sạch (CDM) và Cơ chế đồng thực hiện (JI).
CDM là cơ chế duy nhất có sự tham gia của nước đang phát triển với vai trò là nơi triển khai các dự án giảm phát thải và bán các Chứng chỉ giảm phát thải (CERs) cho các nước phát triển để đáp ứng mục tiêu cam kết. Việt Nam chính thức tham gia Nghị định thư Kyoto vào năm 2002.

Nguồn: Climate partner
- Năm 2012: Tại hội nghị Doha, Quatar (COP18), Nghị định thư Kyoto đã được gia hạn giai đoạn thứ hai (2013 – 2020).
- Năm 2015: Tại COP21, Paris, Pháp, Thỏa thuận Paris được thông qua đặt mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2°C và nỗ lực ở mức 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Đây cũng là là Thỏa thuận quan trọng đạt được kể từ sau Nghị định thư Kyoto, yêu cầu tất cả các quốc gia tham gia phải đưa ra cam kết giảm thát thải thông qua đệ trình và cập nhật định kỳ Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC). Tại Điều 6, Thỏa thuận Paris khung hợp tác quốc tế để giảm phát thải KNK được đưa ra gồm:
- Điều 6.2: Cơ chế hợp tác song phương/đa phương:, cho phép các quốc gia trao đổi kết quả giảm phát thải KNK (ITMOs - Internationally Transferred Mitigation Outcomes) để đạt mục tiêu NDC.
- Điều 6.4: Cơ chế tín chỉ cácbon: Thiết lập một cơ chế tập trung dưới sự giám sát của một cơ quan quốc tế thuộc UNFCCC. Đây được xem là Cơ chế nâng cấp của CDM.
- Điều 6.8: Cơ chế phi thị trường, khuyến khích hợp tác tài chính, chuyển giao công nghệ, và xây dựng năng lực để đạt mục tiêu khí hậu.
Việt Nam phê chuẩn Thỏa thuận này vào 3/11/2016.
Diễn biến mới tại các COP gần đây
Sau Thỏa thuận Paris 2015, các COP gần đây cho đến COP30 năm 2025, chủ yếu đề cập đến vấn đề giảm dần điện than, “chuyển đổi khỏi nhiên liệu hóa thạch” và các kêu gọi tăng cường mức cam kết khi cam kết hiện tại chưa đủ để dạt mục tiêu giữ mức tăng toàn cầu ở 1,5oC.
Nổi bật tại COP 29 (2024), Baku, Azerbaijan, Điều 6 của Thoả thuận Paris được thông qua vận hành đầy đủ. Năm 2025, tại COP30, Belém, Brazil, các bên đạt tiến triển về tăng tài chính thích ứng đến năm 2035 và bảo vệ đa dạng sinh học, song chưa có cam kết rõ ràng về loại bỏ nhiên liệu hóa thạch.
Việt Nam tham gia vào các hiệp ước khí hậu từ sớm, thể hiện cam kết và trách nhiệm trong ứng phó với BĐKH toàn cầu. Việt Nam cũng có kinh nghiệm triển tham gia thị trường các-bon quốc tế qua cơ chế CDM, JCM. Đây là tiền đề thuận lợi để thị trường các-bon Việt Nam khi chính thức vận hành có cơ sở pháp lý và kỹ thuật vững chắc. Trong bối cảnh chuyển dịch sang kinh tế xanh và phát thải ròng bằng “0”, thị trường các-bon trong nước được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất xanh, công nghệ sạch và phát triển dự án tín chỉ các-bon, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tài liệu tham khảo
- IPCC (2022), Annex II: Glossary [Möller, V., R. van Diemen, J.B.R. Matthews, C. Méndez, S. Semenov, J.S. Fuglestvedt, A. Reisinger (eds.)]
- Climate Patner (2025), A review of key milestones in previous COP conferences (Climate Patner)
- UNFCCC, 25 years of Effort and Achievement
Góc chuyên môn